Friday, November 29, 2013

Mười lý do mọi người Công Giáo nên đọc Niềm Vui Tin Mừng

Tại Công Đồng

Kể từ thời Trung Cổ, người ta không thể quan niệm được một công đồng mà lại không có sự tham dự của các nhà thần học, những người hành xử như cố vấn cho các giám mục. Vatican II cũng thế. Tuy nhiên, việc các chuyên viên cá nhân khuôn định đường hướng của Công Đồng chính xác ra sao, họ ảnh hưởng thế nào đối với ý kiến các giám mục và nhất là đối với nội dung các văn kiện sau cùng là điều không dễ xác định. Ở đây, sử gia buộc phải dựa hoàn toàn vào các tường thuật của chính các chuyên viên hay của các cá nhân khác có mặt tại Công Đồng. Trong trường hợp Rahner, các phân tích của Karl Heinz Neufeld, Günther Wassilowsky và Herbert Vorgrimmler cung cấp cho ta nhiều cái nhìn thấu suốt về các hoạt động của ngài không những tại Công Đồng mà còn trong giai đoạn chuẩn bị nó cũng như trong lúc Công Đồng không nhóm họp.

Về phần Ratzinger, các đóng góp đặc thù của ngài cho Công Đồng còn đợi những nghiên cứu chi tiết hơn, nhưng một số vẫn có thể được tái dựng nhờ các trước tác của chính ngài cũng như các nguồn đệ nhị đẳng về Công Đồng. Ở đây, chúng ta chủ yếu tập chú vào (a) sự can dự của Rahner và Ratzinger vào các công trình của Công Đồng về mối tương quan giữa Giáo Hội và thế giới, và (b) sự tương tác thực tế giữa họ với nhau tại các nhóm làm việc hay trong lúc Công Đồng không nhóm họp. Bất chấp các khó khăn trước đó với giáo triều và việc Đức HY Ottaviani miễn cưỡng tiếp nhận ngài, Karl Rahner vẫn đã trở thành một thành viên của Ủy Ban Thần Học và can dự một cách tích cực và có ý nghĩa vào việc chuẩn bị các văn kiện Lumen Gentium, Dei Verbum, Gaudium et Spes, và Perfectae Caritatis .

Nhưng ảnh hưởng của ngài vượt quá Ủy Ban Thần Học. Ngài thực hiện nhiều buổi diễn giảng và thường tham dự các cuộc đối thoại với các nhà thần học và giám mục của nhiều ủy ban khác.

Chắc chắn, việc trên không thể có được, nếu không có mối liên hệ thân hữu giữa các giám mục và các chuyên viên, một mối liên hệ đã có ngay từ những ngày đầu. Chính cha cho hay: “Có lẽ người ta sẽ bảo nếu, không những tôi, mà một số nhà thần học không có được sự hiểu biết thân ái với các giám mục ngay từ buổi đầu của Công Đồng, thì Công Đồng hẳn đã đi theo một đường hướng hoàn toàn khác với đường hướng nó đã chọn”.

Nhưng ngoài liên hệ tốt đẹp giữa các giám mục và các chuyên viên ra, cũng còn yếu tố rất thực tiễn đối với mối liên hệ này. Số giám mục thách thức các sơ đồ do ủy ban chuẩn bị soạn thảo muốn có những bản văn thay thế cũng như các lời phê bình vững chắc về thần học đối với các sơ đồ này. Thành thử nhiều chuyên viên rút cục đã phải soạn thảo các bản văn thay thế để trình cho các nghị phụ. Việc làm của Rahner đối với Lumen Gentium bao gồm cả công việc tại ủy ban thần học lẫn các buổi đàm đạo với các giám mục, các buổi diễn thuyết, các phát biểu viết cho Đức HY König để ngài trình bày tại Phòng Công Đồng (aula).

Khi đã thuyết phục được các giám mục Đức và Áo tin rằng sơ đồ Depositum Fidei có vấn đề, ngài bèn lập tức bắt đầu cùng Ratzinger chuẩn bị cách đáp ứng. Rahner thường không tới phòng họp khoáng đại, vì ngài cho các thảo luận ở đấy, trong căn bản, chỉ mất thì giờ. Thay vào đó, ngài bắt tay vào sơ đồ. Về sự hợp tác với Ratzinger này, Rahner có viết trong sổ tay của mình như sau: “tôi rất ăn ý với Ratzinger. Và ngài có tiếng tăm tốt với (Đức HY) Frings”.

Xét chung, việc can dự của Rahner chủ yếu thuộc lãnh vực Giáo Hội học. Ngài tham dự tích cực vào việc lên khuôn cho sơ đồ De Ecclesia, cố gắng bao gồm vấn đề chức phó tế vào sơ đồ Giáo Hội, vận động để Thánh Mẫu Học được lồng vào văn kiện về Giáo Hội học của Công Đồng, cổ vũ tính hợp đoàn và ủng hộ nền thần học về các Giáo Hội địa phương. Từ tháng Chín năm 1963 trở đi, sự can dự của Rahner chủ yếu vẫn thuộc lãnh vực Giáo Hội học. Ngài tham dự việc soạn thảo sơ đồ XIII, sau này được biết dưới tên Gaudium et Spes .

Theo Đức HY König, Rahner đặc biệt lưu ý đến việc khai triển Lumen Gentium, nhưng Yves Congar nhớ rằng ảnh hưởng của ngài đối với Gaudium et Spes cũng không kém phần quan trọng. Sơ đồ này được đề xuất và chịu ảnh hưởng của đội tiền phong trong nền thần học Pháp. Rahner cố gắng làm dịu nền nhân học hơi quá lạc quan này bằng ngữ cảnh nền thần học thánh giá.

Tuy thế, nền thần học của ngài vẫn là nền thần học nhập thế và tập chú vào quan tâm mục vụ đối với con người nhân bản hiện đại trong thế giới. Giống Rahner, Ratzinger không đơn giản chỉ là một trong khá nhiều chuyên viên chỉ biết thầm lặng làm việc cho các giám mục liên hệ của mình mà thôi. Suốt thời Công Đồng, ngài thực hiện nhiều buổi diễn thuyết về các đề tài có liên quan với Rôma cũng như Đức khi Công Đồng không nhóm họp. Ngài tổ chức các buổi thuyết trình cho các nghị phụ và cho công bố một loạt nhận định nổi iếng về Công Đồng. Như John Allen từng viết: “Dù Ratzinger không lên tiếng tại phòng khoáng đại, ngài vẫn là khuôn mặt công cộng bằng mọi cách khác”.

Như trên đã thấy, sự can dự của ngài cũng bao gồm việc làm đối với các văn kiện, như văn kiện thay thế cho văn kiện về mạc khải, một văn kiện ngài soạn thảo với Rahner. Ngày 25 tháng Mười năm 1962, Đức HY Frings gặp các Đức HY Alfrink, Suenens, Liénart, Döpfner, Siri, và Montini, và yêu cầu Ratzinger trình bày với các ngài các gợi ý của hội đồng giám mục nói tiếng Đức.

Nói chung, phản ứng khá tích cực, và lúc đó, hẳn Ratzinger đã gây được ấn tượng sâu sắc nơi các nghị phụ, nhất là Đức HY Montini, người sau này, trong tư cách Đức Phaolô VI, đã cử Ratzinger làm Tổng Giám Mục Munich và cuối cùng nâng ngài lên hàng Hồng Y. Trong khi ấy, Ratzinger cũng lưu tâm không kém tới các vấn đề mục vụ như Rahner. Ngài thực sự quan tâm đến con người, nhưng lưu ý chính của ngài không phải là làm cách nào đem Giáo Hội lại gần thế giới hơn mà đúng hơn là làm cách nào khiến thế giới can dự vào sứ điệp Kitô Giáo. Nên không lạ gì trong các văn kiện của Vatican II, Dei Verbum là văn kiện trực tiếp chịu ảnh hưởng của Ratzinger hơn cả.

Sau Công Đồng

Điều làm ta khó đo lường được tác dụng của Công Đồng đối với đời sống Giáo Hội không những chỉ là tính mơ hồ của các văn kiện và các cách khác nhau trong việc thực thi nội dung của chúng, mà còn vì khối lượng khổng lồ các văn bản, các buổi diễn thuyết, các cuộc đàm đạo và thư từ không được bao gồm trong các văn kiện cuối cùng. Như Rahner có lần nói về công đồng: “Nó như việc sản xuất chất radium. Người ta phải làm việc với cả tấn quặng mới sản xuất ra được 0.14 gram radium. Tuy nhiên, vẫn rất đáng công”.

Chịu khó lục lọi qua hàng tấn chất quặng này, tức các câu truyện và khai triển bản thân của các nhà tư tưởng chính của Công Đồng, ta mau chóng thấy rằng cách này hay cách khác, Công Đồng quả đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng đối với tất cả các nhân vật này. Bất kể họ tới Rôma với ý nghĩ nào, hầu như ai trong số họ cũng đều đã biến đổi quan điểm của mình qua suốt 4 năm của Công Đồng, nhờ rất nhiều cuộc thảo luận và trao đổi. Có thể nói: Công Đồng đã đánh dấu một cuộc hồi tâm nơi phần đông, nếu không muốn nói là tất cả, những người tham dự nó, trong đó có Ratzinger và Rahner. Cả hai đều nhiều lần nói tới trải nghiệm của họ tại Công Đồng và về ý nghĩa của nó đối với chính họ và đối với Giáo Hội nói chung. Khi các thành quả của Vatican II dần dần được thực thi và khi thế giới sống qua những thời khắc xáo trộn, các lượng giá của họ không hẳn về chính Công Đồng, mà về tình trạng Giáo Hội ngày nay đã có những khuôn hình khác hẳn. Chỉ 3 năm sau khi Vatican II kết thúc, sự dị biệt này đã trở thành rõ rệt. Thử hỏi việc gì đã xẩy ra? Muốn trả lời, thiển nghĩ, ta nên đặt câu hỏi vào ngữ cảnh lịch sử.

Cả hai nhà thần học này đều là người Đức, sống trong một bối cảnh xã hội đặc thù, được trang bị với những phương thế lượng giá hoàn cảnh và đáp ứng nó do văn hóa lên khuôn, và do đó, điều chủ yếu là phải làm sáng tỏ hoàn cảnh đặc thù của họ mới hòng giải thích được các kết luận của họ. Tại Đức cũng như tại những nơi khác ở tây bán cầu, các năm sau Vatican II là các năm được đánh dấu bằng nhiều bất ổn xã hội. Nhưng không giống ở Hoa Kỳ, nơi sinh viên chĩa mũi dùi tức giận của họ trước nhất vào việc chống lại cuộc chiến tranh mau chóng leo thang tại Đông Nam Á, các sinh viên Đức đối diện với một vấn đề khác hẳn, thuộc lịch sử gần đó của Đức. Thực vậy, sau Thế Chiến II, rất nhiều người trước đây từng giữ các chức vụ quan trọng trong chế độ cai trị tàn bạo của Hitler nay lại một lần nữa len lỏi vào bộ máy chính quyền, nắm giữ các chức vụ quan trọng không kém, như viện trưởng đại học chẳng hạn.

Trước hoàn cảnh ấy, phong trào sinh viên được đà và mau chóng mang hình thức bạo động. Một phần cũng vì ngày 2 tháng Sáu, 1967, trong một cuộc biểu tình chống quốc vương Ba Tư đến thăm Bá Linh, Benno Ohnesorg, 26 tuổi, đã bị một cảnh sát viên bắn chết. Từ đó, các cuộc biểu tình gần như xẩy ra hàng ngày; các sinh viên tẩy chay lớp học, chiếm giữ các giảng đường khiến việc giảng dạy hoàn toàn ngưng trệ. Đối với các giáo sư vốn được sinh viên trọng kính, tình thế này hoàn toàn không có tiền lệ và thật là khó xử. Một số tham gia thảo luận, cố gắng trình bày quan điểm chống lại các sinh viên biểu tình, một số khác tỏ ý ủng hộ nội dung biểu tình nhưng không nhất thiết ủng hộ phương thế thực hiện. Cuộc xáo trộn này ảnh hưởng đến cả phân khoa thần học tại đại học Tübingen, nơi Ratzinger giảng dạy lúc ấy. Herman Häring, một cựu sinh viên tại Tübingen, mô tả tình thế lúc ấy như là mau chóng dẫn tới phân hóa.

Trong một bài báo gần đây, Ronald Modras cho rằng không nên lẫn lộn “cuộc bất ổn của sinh viên” tại Tübingen với cảnh bạo động từng xẩy ra ở Paris và Chicago cùng một năm. Còn các sinh viên dự các lớp của Ratzinger thì không giống chút nào với những người theo Mao từng phá phách các lớp học tại các phân khoa khác ở Tübingen.

Tuy thế, các vụ đập phá, ngăn chặn lớp học hay ngồi lỳ trong đó chắc chắn có gây ấn tượng. Năm 1968, các sinh viên thần học có ra một tuyên cáo đòi thần học phải được tự do; bản tuyên cáo này có chữ ký của 1,322 sinh viên. Một năm sau, các sinh viên thần học Tübingen có công bố một lá thư đòi các giám mục phải được bầu chọn và nhiệm kỳ của các ngài tối đa chỉ nên kéo dài 8 năm. Phân khoa đã đáp ứng khác nhau đối với các đòi hỏi của sinh viên. Hans Küng, chẳng hạn, cũng ngỡ ngàng như Ratzinger trước các đòi hỏi của sinh viên, nhưng đã chống đối thẳng thừng bằng cách tham gia thảo luận với các sinh viên. Tuy nhiên, rất may, tiếng tăm ông không hề hấn gì. Những vị khác, như Ernst Käsemann thuộc phân khoa Thệ Phản, thì xử lý tình thế này cách tinh tế hơn và nhờ thế cũng không bị sinh viên công kích gì. Ratzinger, vốn là người trầm lặng và dè dặt hơn, nên đã rút lui và tránh mọi cuộc đàm đạo. Thay vào đó, ngài đã chú tâm vào việc viết lách. Nhờ thế, trong năm 1968, đã cho xuất bản tác phẩm nổi tiếng nhất của ngài là cuốn Einührung in das Christentum (Dẫn Nhập vào Kitô Giáo).

Dựa vào các bài diễn giảng trong năm 1967, cuốn sách trên giúp ta nhìn thấu nền thần học của Ratzinger cũng như quan điểm của ngài về tình hình lúc ấy; ngay lời nói đầu cũng đã cho thấy cuốn sách này phải được đọc trong ngữ cảnh đương thời. Ratzinger viết: “Vấn đề nội dung và ý nghĩa thực sự của đức tin Kitô Giáo ngày nay bị chìm vào trong màn sương mù không chắc chắn như chưa từng có trước đây trong lịch sử Kitô Giáo”.

Không như những người ngốc nghếch, mù quáng chấp nhận bất cứ những gì mới lạ chỉ vì chúng mới lạ, những ai từng ưu tư theo dõi sự phát triển trong Giáo Hội suốt thập niên qua được nhắc nhở phải nhớ câu truyện “Hans Gặp May” của Anh Em Nhà Grimm. Anh chàng này đổi cả thỏi vàng có được bằng mồ hôi nước mắt lấy những vật càng ngày càng trở nên vô giá trị, cho tới lúc chẳng còn gì khác ngoài miếng đá mài. Khi mất cả miếng đá này, Hans thấy mình hoàn toàn tự do, chẳng còn vướng mắc chi và rất hạnh phúc. Đối với Ratzinger, sự phấn khích trong thái độ tín hữu tiếp nhận Vatican II nhắc người ta nhớ tới niềm hạnh phúc của Hans; mỗi giải thích mới, đối với ngài, giống như một trao đổi trong đó Kitô Giáo đích thực bị thiệt thòi. Người cựu chuyên viên đã trình bày cái hiểu của mình về Kitô Giáo như thế và đã sẵn sàng duy trì điều những người mê say thay đổi sẵn sàng vứt đi. Hans Küng nhận định: “Joseph Ratzinger sợ. Và giống như viên điều tra vĩ đại của Dostoyevsky, ông không sợ điều gì hơn là tự do”.

Điều cuốn sách trên cho biết nhiều hơn cả là: suốt trong nó, Ratzinger đã trình bày một nền triết lý theo văn hóa Hy Lạp nằm dưới nền thần học của ngài. Trong một bài điểm sách, Walter Kasper nhận diện được nhiều dấu vết của thuyết nhị nguyên Hy Lạp, xuyên suốt tác phẩm như một sợi chỉ hồng. Ratzinger cảnh giác trước thuyết tân duy sử học (new historicism), trong đó, sự kiện là nhất và chỉ những sự kiện nào ta có thể giải thích được nguyên nhân mới được nhận là kiến thức, giống hệt gợi ý của Descartes trong khi bóp méo Aristốt.

Theo Ratzinger, điều tiếp theo đó nhất định là quay về với thuyết duy khoa học (scientism) và với nó là “quay về với thực tại bao lâu nó là điều có thể làm được”. Ngài tiếp tục nói rằng thần học từng cố gắng trả lời chủ nghĩa duy sử học đầy tính giản lược này bằng cách tái dựng đức tin theo lịch sử, một động thái thoạt đầu khá hứa hẹn nhưng chẳng bao lâu sụp đổ do chính sức nặng của nó và do việc khoa học hạ bệ lịch sử. Và do đó, thay vì sự kiện, thần học cậy nhờ tới điều cần làm (faciendum) và nhập đức tin thành một với hành vi chính trị, như các công trình của những người như Moltmann và Metz đã chứng tỏ. Đối với Ratzinger, cả sự kiện lẫn điều cần làm không hẳn là phi Kitô Giáo; trái lại, chúng là phần thiết yếu đối với mọi Kitô hữu. Nhưng, ở đây, trọn sự sâu sắc trong chủ trương nhị nguyên của ngài ló dạng, vì cuối cùng, chủ trương này cho rằng, dựa vào đức tin, con người chẳng phải là sự kiện mà cũng chẳng phải là điều cần làm. Chủ trương này chỉ có thể dựa vào sự thật để nói lên, nếu không nó sẽ vô nghĩa.

Rốt cục, chính việc hiểu mới quan trọng, chứ không phải việc biết, và việc hiểu không phát sinh từ kiến thức khoa học kỹ thuật, mà lớn lên từ một mình đức tin mà thôi. Từ đó, ngài kết luận: “Đó là lý do tại sao thần học, một khoa nói về Thiên Chúa một cách có hiểu biết, theo cung cách logos (=thuần lý, hữu lý và hiểu biết) là sứ mệnh hàng đầu của Kitô Giáo. Quyền lợi bất hủy tiêu của văn hóa Hy Lạp trong Kitô Giáo đã đặt cơ sở trên sự kiện này. Tôi xác tín rằng trên bình diện sâu sắc nhất, không phải là chuyện tình cờ khi, trong đà hình thành của nó, sứ điệp Kitô Giáo đã đi vào thế giới Hy Lạp trước nhất và tại đây nó hòa hợp với vấn đề hiểu biết và sự thật”.

Như Hermann Häring đã chỉ rõ, ở đây, Ratzinger biến văn hóa Hy Lạp thành viên đá thử vàng cho một Giáo Hội lúc ấy đang trở nên phổ quát. Nhưng cùng một lúc, chủ trương này cũng làm cho việc hội nhập văn hóa (inculturation) trở nên khó khăn, một việc chắc chắn được Vatican II vổ vũ, ít là một cách mặc nhiên, và càng ngày càng được thảo luận chung trong Giáo Hội. Đối với Ratzinger, sự thật không phải là chức năng của văn hóa. Như Lieven Boeve từng viết: “Ratzinger cố gắng chứng tỏ rằng có thứ chân lý mãi mãi là chân lý bất chấp mọi giao tiếp văn hóa, chỉ vì nó chân thật”.

Đối với một số người, chủ trương có phần tân Platông này là điều lên đặc điểm cho một Ratzinger mới cũng như viễn tượng thần học và Giáo Hội học cứng rắn của ngài. Nhưng dấu vết của việc say mê đối với triết lý Hy Lạp và ảnh hưởng của nó trên Giáo Hội sơ khai đã hiển nhiên ngay trong các trước tác đầu tiên của ngài. Điều làm ngài thất vọng đối với tình hình mới trong Giáo Hội không hẳn là các sinh viên biểu tình cho bằng việc mở cửa hướng ra thế giới, một việc, theo ngài, sẽ làm hại tới các giá trị Kitô Giáo chân thực. Ngay vào năm 1966, hai năm trước khi các cuộc nổi loạn của sinh viên lên tới cao điểm, Ratzinger đã trình bày một số nhận định không mấy lạc quan về thành quả của Vatican II tại Ngày Công Giáo Đức họp ở Bamberg. Ngài than phiền khuynh hướng phát triển hậu Công Đồng về phụng vụ một là bị tê liệt bởi “một số thực hành cổ xưa” hai là bị đẩy quá xa theo tinh thần hiện đại hóa.

Đối với Karl Rahner, cuối thập niên 1960 đánh dấu một thời kỳ quan trọng không kém với đặc điểm tích cực dấn thân vào việc canh tân Giáo Hội, một việc được ngài theo đuổi trong các buổi đàm đạo với những người ngoài Giáo Hội.

Qua các cuộc đối thoại liên khoa, ngài tìm tòi các cách thế mới để giải thích các học lý truyền thống sao cho chúng hoà hợp được với các cái nhìn thấu suốt của các khoa khác, và nhờ thế, trở thành có nghĩa đối với những người vô thần và những ai không phải là Kitô hữu. Điều lên đặc điểm cho phương thức của ngài trong khoảng thời gian này là sự cởi mở, được người viết tiểu sử của ngài mô tả như sau: “Sự cởi mở và sinh khí trong một hạn tuổi mà người khác thì đã về hưu rồi, lòng can đảm đối với những phác thảo mới, những tìm tòi xa hơn, đi vào nhiều khoa và nhiều lãnh vực mới mẻ vốn không quen biết… tất cả những công việc này khiến ngài được ca ngợi và biết ơn, vì nó mang lại cho người ta sự can đảm ở một thời điểm trong đó các phương tiện hướng dẫn cổ truyền đang trên đà thoái hóa”.

Hai ấn phẩm vào thời gian này làm điển hình cho sự cởi mở đối với thế giới. Trong một bài báo đồng tác giả với J.B. Metz vào năm 1968, Rahner nhận diện 3 vấn đề chính đặt ra cho Giáo Hội sau Vatican II. Thứ nhất là vấn đề Thiên Chúa đối diện với chủ nghĩa vô thần trong lúc có hiện tượng tục hóa gia tăng. Thứ hai, Rahner thấy các phát triển trong Kitô học là nguồn gây ra nhiều nan đề, trong đó sự cân bằng đúng đắn giữa Kitô học “từ bên dưới” và Kitô học “từ bên trên” cần phải được thương thảo. Sau cùng, là vấn đề cứu rỗi cần được dẫn giải qua câu hỏi: “đối với tôi, trong cuộc hiện sinh độc đáo và cụ thể, có chăng một Thiên Chúa nhân hậu?” Tuy nhiên, đối với Metz, việc này chỉ tạo ra một thứ hộ giáo hướng ngoại (Apologia ad extra); bối rối trước hiện tượng xã hội hiện đại phần lớn tin theo chủ nghĩa nhân bản hậu vô thần, là chủ nghĩa ít khi đặt câu hỏi về Thiên Chúa, ông nhấn mạnh tới sự quan trọng của nền hộ giáo hướng nội (apologia ad intra). Rahner đồng ý, nhất là vì nền hộ giáo hướng nội này giúp ngăn ngừa các tân lạc giáo khỏi xuất hiện trong Giáo Hội, một việc ngài cho là khó tránh trong diễn trình canh tân. Hơn nữa, đây cũng là phương thế mang lại tính đa nguyên cho thần học và đời sống Giáo Hội, một điều rất khẩn thiết. Dù cho rằng tính đa nguyên là điều quan trọng, và do đó sự thật cần được thương thảo, Rahner vẫn chủ trương rằng một số sai lạc cần được tuyên bố như thế. Thí dụ, trong trường hợp một nền Kitô học nào đó quá nhấn mạnh tới nhân tính của Chúa Giêsu mà sao lãng thần tính của Người, thì Giáo Hội có trách nhiệm phải can thiệp. Ý muốn thương thảo một cái hiểu về Thiên Chúa và Giáo Hội nhưng không rơi vào thuyết duy tương đối quả là rất khác với cuộc tìm kiếm chân lý tuyệt đối và vô tận của Ratzinger.

Trong một tiểu luận khác, Rahner gọi Vatican II là công đồng đầu tiên của Giáo Hội Thế Giới và tìm hiểu các hệ luận của biến cố này. Hiển nhiên hạn từ Giáo Hội Thế Giới này chịu ảnh hưởng nặng nề bởi ý niệm “hội nhập văn hóa” mà theo Rahner đã trở nên quan trọng hơn bao giờ hết sau Vatican II. Không điều gì phản ảnh khai triển này cho bằng phụng vụ. Đối với Rahner, phụng vụ không hẳn chỉ được phiên dịch từ tiếng La Tinh qua tiếng phổ thông mà đúng hơn đã trở thành một phát biểu địa phương về việc thờ phượng do các nền thần học địa phương lên khuôn.

Rahner cũng cho rằng dù tính đa nguyên Kitô Giáo, vốn hàm nghĩa trong các văn kiện của Vatican II, được xem như một cố gắng tha thiết muốn thỏa hiệp với thế giới thế tục hiện đại, nhưng chiều hướng hạn chế lạm quyền vốn đã nằm sẵn ngay trong bản chất của Giáo Hội rồi. Rất có thể một số giám mục hay giáo dân bị cám dỗ muốn áp đặt lên người khác, cả bên trong lẫn bên ngoài Giáo Hội, các quan điểm của họ về chân lý bất biến. Nhưng sau Vatican II, các khuynh hướng “phátxít giáo sĩ” này, nhằm hạn chế tự do của tín hữu nhân danh thứ chân lý do một mình chính thống chủ trương không còn khả hữu nữa. Với Công Đồng, Giáo Hội đã tự ý và bất phản hồi từ bỏ quyền lực tuyệt đối để ủng hộ tính đa nguyên không thể tránh né vì đây chính là bản chất đích thực của Giáo Hội. Rahner thừa nhận rằng Bộ Giáo Lý Đức Tin thường hay đáp ứng thay đổi bằng một nền thần học chống chế (defensive theology) nhằm “cảnh cáo và ngăn cấm”. “Nhưng” theo ngài “Bộ không nên hành xử mãi mãi như hiện nay, và nhờ thế, toàn thể Giáo Hội khỏi bị kéo lui trở lại phía sau các hạn chế từng bị vượt qua tại Vatican II”.

Thần học sẽ biến hóa và từ từ biến đổi từ việc xuất cảng các ý niệm của Âu Châu qua một nền thần học thế giới thực sự, như thần học giải phóng chẳng hạn. Rahner không coi các nền thần học phi Âu châu của địa phương này như một nguy cơ đối với trách vụ thần học của Cựu Thế Giới; trái lại, tình thế hiện thời đòi ta phải hướng về những người đang từ bỏ đức tin ở Phương Tây, đang ra xa lạ với Kitô giáo. Điều cần chấp nhận là các quan tâm của Giáo Hội không còn như nhau khắp trên thế giới nữa. Sau cùng, Rahner hướng về đại kết và nhấn mạnh rằng Giáo Hội đã tiến một bước thật xa ra khỏi quan niệm “massa damnata” (trầm luân hàng loạt) của Thánh Augustinô. Thay vào đó, ơn cứu rỗi có tính phổ quát và ơn thánh Chúa được đề xuất cho mọi con người nhân bản tự do, cho dù họ quyết định không chấp nhận nó. Với Rahner, ơn cứu rỗi đã thắng thế.

Kết luận

Mục đích bài này muốn tìm hiểu mối liên hệ giữa Karl Rahner và Joseph Ratzinger cũng như sự thay lòng đổi dạ mà vị sau bị coi là đã kinh qua sau thời Vatican II. Nó cố gắng chứng minh rằng dù Đức Bênêđíctô chắc chắn chịu ảnh hưởng của Công Đồng và các thay đổi do nó tạo nên, nhưng các quan điểm về sau của ngài, trong yếu tính, không khác bao nhiêu so với những quan điểm ngài có trước Công Đồng. Rhaner và Đức Bênêđíctô chắc chắn có chung nhiều quan tâm đối với ý nghĩa của Công Đồng, vai trò của hàng giám mục, và mối lo lắng trước nền thần học quá thiên tri thức của chủ nghĩa tân kinh viện. Nhưng cuối cùng, họ khác nhau trong các quan điểm về mối liên hệ của Giáo Hội với thế giới ngày nay. Sau Công Đồng, các dị biệt này đã xác định ra hướng đi đối nghịch nhau trong các khai triển sau này của hai người. Trong khi Rhaner nhấn mạnh tới nhu cầu Giáo Hội phải thay đổi để hướng tới việc cởi mở với thế giới và những ai “muốn tin nhưng nghĩ mình không thể tin”, thì Đức Bênêđíctô đòi hỏi phải đem Giáo Hội trở về với ý nghĩa chân thực của Kitô Giáo. Đối với Đức Bênêđíctô, cách nhiều người giải thích Công Đồng thật khác xa với ý hướng chân thực của Công Đồng, là phục hưng Giáo Hội đích thực. Việc hiện nay, người ta giải thích sự hợp tác của hai người tại Công Đồng như là một đồng điệu hoà hợp toàn diện chỉ là hậu quả phát sinh từ quan điểm thơ mộng về Công Đồng. Người ta dễ rơi vào chỗ coi Chúa Thánh Thần đã biến Công Đồng thành một mặt trận thống nhất ngay từ đầu, động viên được đa số tham dự viên dấn thân vào việc cùng nhau thay đổi Giáo Hội từ căn cội. Tuy nhiên, cả Rahner lẫn Ratzinger đều cảm thấy không thoải mái với cái nhìn này, bởi họ thấy Công Đồng chỉ đóng vai phụ trợ chứ không hẳn là nơi mà mọi đặc sủng của Giáo Hội đều hoạt động. Ngày nay, khi ta cố gắng tìm hiểu sức sinh động tại Công Đồng, ta cần tới một trình độ nào đó trong ý thức lịch sử và cảm giới và nên nhớ rằng ta làm thế là dựa vào lời của chính các nghị phụ. Các vị này, trong suốt thời gian Công Đồng, cho thấy các ngài cảm nghiệm được điều có thể giải thích là Thần Khí nội tại (immanence of the spirit). Rahner và Ratzinger là hai nhà thần học Đức Tại Vatican II. Chính hậu cảnh văn hóa này đã tiền định để họ có những đáp ứng đặc thù đối với Công Đồng và các vấn đề của nó. Hình như Rahner rất ý thức được chủ trương giải thích đặc thù này, trong khi Đức Bênêđíctô, cho tới nay, vẫn nhấn mạnh tới tính thượng đẳng của nền thần học La Tinh, phần lớn chịu ảnh hưởng của Thánh Augustinô.

Về phương diện này, Đức Bênêđíctô rất đúng; không phải ngài là người thay đổi. Điều thúc đẩy nền thần học của ngài không phải là lòng can đảm và tín thác rất đặc trưng nơi Rhaner, mà đúng ra là mối lo ngại, lo ngại rằng Giáo Hội có thể lâm vào một hướng đi sai lầm, quá thiên về trần thế. Ratzinger, vì thế, đã đưa ra các biện pháp nghiêm ngặt để duy trì nguyên trạng và trở về với một Giáo Hội tâm linh hơn. Các biến cố năm 1968 có thể đóng một vai trò xúc tác nào đó, nhưng chắc chắn không phải nguồn gốc cho chủ trương hậu công đồng của ngài. Rahner, ngược lại, coi thay đổi như điều cốt yếu của bất cứ truyền thống liên tục nào. Thành thử, các quan điểm của ngài về Giáo Hội học vẫn kinh qua việc tái lên khuôn không ngừng. Người ta chỉ cần nhớ trước Công Đồng, dù vẫn quả quyết tính hợp đoàn, nhưng tính dân chủ trong Giáo Hội là điều Rhaner chưa bao giờ nghĩ tới. Tuy nhiên, sau này, ngài rất thích ý niệm dân chủ, cho dù chỉ là một ý niệm, và rất sẵn sàng đi quá những gì ngài vốn suy nghĩ hồi năm 1962.

Nếu một trong hai người đã kinh qua một hồi hướng sâu xa và thay đổi đáng kể, thì người đó hẳn là Rahner. Và con đường Đamát của ngài chính là Công Đồng Vatican II. Dù sao, thiển nghĩ sẽ không công bằng nếu ta giản lược Ratzinger, một nhà thần học sâu sắc và thông minh, chỉ còn là một chính khách ham quyền. Các quan tâm của ngài rất chân thực và phát xuất tận đáy lòng. Nhưng việc họ đối nghịch nhau về những gì phát xuất từ Vatican II thực ra vẫn chưa phải là một tận điểm, như chính Rahner nhấn mạnh, mà chỉ là một quá độ hướng tới một điều gì mới mẻ. Công Đồng có lẽ cũng không dự ứng được đâu là phản ứng đối với các quyết định của mình và chính nó cũng làm cho việc nhận định đúng sai của hậu thế khó khăn hơn. Nhưng xét cho cùng, nó đã giúp Giáo Hội một lần nữa bước mạnh vào thế giới và tích cực dấn thân cho Nước Trời.


Viết theo Oliver Putz, “I Did Not Change; They Did!” Joseph Ratzinger, Karl Rahner and the Second Vatican Council.
http://www.academia.edu/470398/